![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| |
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
![]() |
M Ư Ờ I H A I C H I P H Á I Y - S Ơ - R A - Ê N
Dân Y-sơ-ra-ên rất hảnh diện về nguồn gốc của mình vì được Đức Chúa Trời chọn từ muôn dân để thờ phượng Ngài. Họ gọi tất cả các dân tộc khác, không có chung tổ phụ Gia-cốp, là “dân ngoại”, kể cả hậu tự của người anh song sanh với Gia-cốp là Ê-sau, mặc dầu những người nầy có cùng tổ tiên, tiếng nói, phong tục, tập quán... như họ.
Bài nầy
chỉ nói về 12 chi phái và các tổ phụ trực tiếp của dân Do Thái. Kinh
Thánh thường không đề cập đến con gái trong gia đình ngoại trừ các
trường hợp đặt biệt. Thí dụ như Gia-cốp có 12 người con trai, điều nầy
không có nghĩa là ông không có hay chỉ có một con gái. Một điều nữa là
mặc dầu lúc nầy chưa có mười điều răn, nhưng những ai vi phạm luật pháp
đều bị nghiêm trị. I. Hậu tự của A-đam: A-đam và Ê-va Khi tạo lập vũ trụ, Ðức Chúa Trời đã dùng lời phán để dựng nên muôn vật, nhưng chỉ có loài người, Ngài tự tay làm nên giống như hình Ngài, hà sinh khí vào và nhờ đó người trở thành một loài sanh linh tức là có linh hồn. Ðức Chúa Trời dựng nên A-đam và Ê-va, đặt họ cai quản vườn địa đàng Ê-đen. Ngài lại phán cùng ông bà rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn, nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ ăn đến, vì một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết[1]. Nhưng Ê-va, vì bị con rắn cám dỗ, đã hái trái cấm ăn rồi mang cho A-đam cùng ăn. Sau khi ăn xong, ông bà thấy mình bị lõa lồ, lấy lá cây đóng khố che thân. Ông bà ẩn trốn khỏi Ðức Chúa Trời, không chịu ăn năn tội. Vì thế ông bà bị đuổi ra khỏi vườn, từ đó loài người phải làm việc vất vả để sinh sống và cũng từ đó sự chết thật đã vào thế gian. Sau khi Ê-va bị con rắn cám dổ, Đức Chúa Trời phán cùng rắn rằng: “Vì mầy đã làm điều như vậy, mầy sẽ bị rủa sả trong vòng các loài súc vật, các loài thú đồng, mầy sẽ bò bằng bụng và ăn bụi đất trọn cả đời. Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người” (Sáng thế ký 3:14-15). Đây là một ơn phước Đức Chúa Trời dành cho loài người ngay từ buổi ban đầu: Sau khi phạm tội, Ngài đã có chương trình cứu rỗi. Như chúng ta biết, Kinh Thánh thường không đề cập đến người nữ hoặc dòng dõi người nữ, do đó “dòng dõi người nữ” ở đây chỉ về lời hứa ban cho Chúa Cứu Thế Jêsus, từ bà Ma-ri. Vì Đức Chúa Jêsus được dựng thai bởi Thánh Linh, không bởi khí huyết loài người, chỉ có Ngài mới thuộc về dòng dõi người nữ.
A-đam và Ê-va sanh Ca-in và A-bên. Ca-in vì ghanh ghét đã giết em mình. Sau đó Sết ra đời. A-đam còn sống thêm 800 năm, sanh con trai và con gái, ông hưởng thọ được 930 tuổi. Sết sanh Ê-nót và các con trai con gái khác. Ê-nót sanh Kê-nan. Kê-nan sanh Ma-ha-la-le. Ma-ha-la-le sanh Giê-rệt. Giê-rệt sanh Hê-nóc. Hê-nóc[3] sanh Mê-tu-sê-la, Mê-tu-sê-la[4] sanh Lê-méc. Lê-méc sanh Nô-ê. Trong đời Nô-ê, loài người trở nên hung ác và các ý tưởng của lòng họ xấu xa đến nỗi Ðức Chúa Trời quyết định hủy diệt họ. Ngài lập giao ước cùng Nô-ê “là một người công bình, trọn vẹn”, cũng như Hê-nóc, ông được “đồng đi cùng Ðức Chúa Trời”. Ngài bảo ông đóng một chiếc tàu lớn bề dài 300 cu-đê (thước), ngang 50 cu-đê, bề cao 30 cu-đê[5], bằng cây gô-phe, theo lời Ngài chỉ dẫn. Tàu có ba tầng được chia ra thành nhiều phòng. Tàu cũng có một cửa sổ bề cao một cu-đê phía trên và một cửa bên hông (Sáng Thế ký 6:14-16). Trong suốt 120 năm đóng tàu[6] (Sáng Thế ký 6:3), Nô-ê cũng giảng đạo Đức Chúa Trời cho dân chúng ăn năn (I Phi-e-rơ 3:20, II Phi-e-rơ 2:5). Khi đóng tàu xong, Nô-ê, vợ, ba con trai và ba con dâu vào tàu. Ông cũng mang theo các loài vật thanh sạch mỗi loài bảy cặp, và loài không thanh sạch mỗi loài một cặp (Sáng Thế ký 7:2) rồi “Ðức Giê-hô-va đóng cửa tàu lại”. Bảy ngày sau đó, nhằm ngày mười bảy tháng hai, lúc Nô-ê được 600 tuổi, Ðức Chúa Trời làm mưa xuống mặt đất trong 40 ngày và 40 đêm. Nước cứ dâng thêm lên trên mặt đất, sau đó lần lần rút xuống đến ngày mười bảy tháng bảy, chiếc tàu tấp trên núi A-ra-rát và đến ngày mồng một tháng mười mấy đỉnh núi mới lộ ra. Bốn mươi ngày sau, Nô-ê mở cửa sổ tàu, thả chim quạ, nó bay đây đó đến khi nước cạn. Kế đó, Nô-ê thả một con bò câu để xem nước hạ bớt trên đất chưa, nhưng bò câu không tìm được nơi nào đáp xuống nên trở về tàu. Bảy ngày sau, Nô-ê lại thả chim bò câu, đến chiều chim về và trong mỏ tha một lá ô-li-ve tươi, thì Nô-ê biết nước đã giảm bớt tới ngọn cây. Ðợi 7 ngày nữa, Nô-ê lại thả chim bò câu, nhưng lần nầy nó không về tàu, vì nước đã giựt bày mặt đất khô. Đó là ngày mồng một tháng giêng, nhằm “năm 601 của đời Nô-ê”. Sau khi ra khỏi tàu, Nô-ê lập một bàn thờ dâng của lễ. Kế đó Ðức Chúa Trời chúc phước cho Nô-ê và các con. Ngài cho loài người dùng thú vật làm thức ăn, song không được ăn huyết hay máu vì có sự sống ở trong, trước đó Ðức Chúa Trời chỉ cho loài người ăn các loài thảo mộc cây trái, tức là ăn chay (Sáng Thế ký 1:29). Và từ đây về sau, loài người không còn sống đến hằng trăm năm như trước nữa. Sau đó Ðức Chúa Trời lập giao ước cùng Nô-ê và dòng dõi ông, Ngài hứa sẽ không dùng nước lụt để hủy diệt nữa. Đức Chúa Trời lại chọn một dấu hiệu thiên nhiên là cái cầu vồng để làm chứng về giao ước nầy. Từ đó Nô-ê theo nghề nông và trồng nho. Một ngày kia, ông uống rượu say, rồi lõa thể ở giữa trại mình. Cham chê cười Nô-ê là cha mình, còn Sem và Gia-phết thì cố sức che đậy sự xấu hổ cha. Khi Nô-ê tỉnh rượu, ông nói: “Ca-na-an (con của Cham) đáng rủa sả! Nó sẽ làm mọi cho các tôi tớ của anh em nó”. Sau Nước lụt, Nô-ê còn sống 350 năm, hưởng thọ được 950 rồi qua đời.
Chú Thích____________________________________________________________________ [1] Ngoài nghĩa đen chết về thể xác, từ nầy ở đây có nghĩa là bị xa cách Đức Chúa Trời. Nhiều người cha trần thế chúng ta thường nói “tôi kể thằng con của tôi như đã chết rồi” (xa cách làm cha mình buồn giận). [2] Tên đỏ đậm và nghiêng: Dòng dõi vua Đa-vít và Đức Chúa Jêsus. Chữ xanh: Chỉ về phái nữ, vợ hay con gái. [3] Hê-nóc hưởng thọ được 365 tuổi thì được Đức Chúa Trời tiếp người đi. Ông và tiên tri Ê-li là 2 người duy nhất trong Kinh Thánh không phải qua sự chết (Sáng Thế ký 5:23-24; II Các Vua 2:11). [4] Mê-tu-sê-la là người sống lâu nhất trong Kinh Thánh: Ông hưởng thọ được 969 tuổi (Sáng Thế ký 5:27). [5] Tương đương với 450 x 75 x 45 feet hay 135 x 22,50 x 13,50 thước tây nếu tính một cu-đê bằng 45 cm (thước trong Sáng Thế ký 6:15 là cu-đê). [6] Nhiều nhà thần học cho rằng 120 năm là thời gian để loài người ăn năn, cũng là thời gian đóng tàu. _____________________________________________________________________________ Mục lục Download pdf V.Mười Hai Người Con lập thành Mười Hai Chi Phái |
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| |
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||